Tư tưởng văn dĩ tải đạo trong tư duy sáng tác của nhà Nho trung đại.

nghĩ Tải văn học Đào trong tư duy sáng tạo của Nho giáo thời trung đại.

Quan niệm về một nền văn học coi trọng chữ nghĩa “tôn giáo”“, giữ gìn của trời cho, đạo làm người đã có từ xa xưa trong hệ tư tưởng Nho giáo, thấm nhuần trong văn hóa truyền thống nước ta suốt chiều dài của nhà nước phong kiến. Từ nền tảng học thuyết Nho giáo, đến hệ thống lí luận văn học cổ điển, mối quan hệ giữa “văn học“Và”tôn giáo” giữ vai trò quan trọng và trở thành hệ giá trị cốt lõi chi phối quá trình sáng tác của các nhà Nho.

Trong kho tàng văn hóa phương Đông, “tôn giáo” là một trong những phạm trù trung tâm và phức tạp, bởi nó bao trùm từ quy luật vũ trụ cho đến tính thống nhất của thế giới tinh thần của con người. “DHuh” là lẽ tự nhiên (thiên đạo), là nguyên lý hình thành của vũ trụ, là chu trình biến đổi trong sự hài hòa của Âm Dương, và là cái gần gũi nhất. “DHuh” một thái độ hướng thiện, tốt đẹp đối với con người (nhân đạo). Đây là giá trị cốt lõi của con người, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, để phân biệt họ với mọi thứ khác trong vũ trụ bao la này. Khổng Tử từng dạy: “Đường không xa người. Khi một người tách Đạo ra khỏi chính mình, thì đó không còn được coi là Đạo nữa.”

Tính chất giáo điều mạnh mẽ của quan niệm này đã được nhà nước phong kiến ​​vận dụng triệt để và nâng lên thành một quy luật sáng tác trong văn học, đặc biệt là văn học bác học. Rất sớm, trong cuốn sách Luận ngữKhổng Tử ngay từ đầu đã xác lập mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thông qua mối quan hệ giữa hai phạm trù.kế hoạch“Và”tôn giáo“. Ở trên thiên đường “dương hóa”Khổng Tử nói: “Thơ kích thích người ta, khiến người ta tuân theo phong tục, khiến người ta xích lại gần nhau, khiến người ta chê cười nền chính trị đương thời. Từ xa biết lễ cha, từ xa biết lễ vua.. Thời Đông Hán, từ quan niệm của Khổng Tử, Vương Sung đã bổ sung, hoàn thiện một mệnh đề toàn diện hơn là “văn học vị lợi“. Trong Vi Diệu Pháp, Ngài nói: “Nếu có lợi cho thế giới, trăm tầng trời cũng không hại. Nếu nó không hữu ích trong cuộc sống, thì một chương cũng vô dụng. Nếu tất cả chúng đều hữu ích, nhiều hơn là nhiều hơn, không ít hơn’, chỉ có nghĩa là làm văn cần phải giữ cái “hữu ích” đối với thế gian thì phải rèn luyện đạo đức, đề cao học vấn, giữ gìn lương thực trời cho… để chúng ta”dịch tùy chỉnhthay đổi “tệ nạn xã hộivì lợi ích của người dân và ủng hộ tôn giáo chính thống.

Tham Khảo Thêm:  Ngôn ngữ nhân vật là gì?

Về sau, được sự hỗ trợ của chính quyền phong kiến, các nhà lý luận văn học đã đứng ra nhận nhiệm vụ biến tôn giáo thành một yêu cầu gần như bắt buộc đối với các nhà Nho khi sáng tác. TRÊN Trái tim của rồngLưu Hiệp khẳng định:Đạo do thánh nhân làm thành văn, nhưng thánh nhân có thể dùng văn mà giải thích Đạo“. Vì thế, “Không kể lại những lời dạy của các bậc thánh trong quá khứ là vô ích cho những mối quan tâm của tương lai”. Thời nhà Minh, Tống Cảnh Liêm nói: “Giải thích đạo lý mới gọi là văn, xây dựng giáo pháp mới gọi là văn, giúp phong tục, thay đổi con người gọi là văn.

Vì vậy, văn học liên quan đến tôn giáo trở thành một trong những khái niệm cốt lõi, ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy sáng tạo của các nhà Nho thời Trung đại. “Văn chương chính thống của Nho giáo là loại văn chương hướng thiện, phải hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, được đo lường bằng các chuẩn mực đạo đức.“. Vì vậy, ngoài sự lựa chọn thể thơ và khả năng sử dụng ngôn ngữ, tác giả phải quan tâm đến nội dung giảng dạy.

Suy cho cùng, mục đích quan trọng của văn học phong kiến ​​vẫn là đề cao hành vi, đạo đức, hướng đến sự ổn định tư tưởng và giữ vững nền tảng xã hội yên bình, đề cao cái thiện. Vì vậy, hình ảnh nhà văn khi cầm bút “Dẫu ngâm trong lau sậy, hưởng gió trăng, thực chẳng rời đạo thường cha con” trở thành kiểu mẫu của văn hóa cổ điển phương Đông. Cũng cần nói thêm rằng, mặc dù công thức “Tải văn học Đào” ràng buộc Nho giáo vào những nội dung khuôn sáo, nhưng nó cũng mang lại cho họ sự ân sủng đầy đủ từ cộng đồng, điều mà các nhà văn chuyên nghiệp sau này trong xã hội hiện đại không dễ gì có được.

Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích từ bài thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu)

Tham Khảo Thêm:  Phân loại các tình huống trong truyện

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *