Thi pháp học và các khái niệm cơ bản của thi pháp học.

học

Thơ và những khái niệm cơ bản về thơ.

I. Thơ là gì?

kế hoạch là hệ thống các cách thức và phương tiện thể hiện cuộc sống thông qua nghệ thuật, khám phá cuộc sống thông qua hình ảnh. Nói cách khác, thơ là ý thức của nhà văn trong việc sáng tạo ra một loại hình nghệ thuật.

Hình thức nghệ thuật có hai phần:

– Các phương diện cụ thể, tình cảm (chất liệu tác phẩm, không gian, thời gian, tình tiết, chi tiết, tình tiết, nhân vật, sự kiện, mâu thuẫn, xung đột…)

– Khía cạnh khái niệm (lý tính, nhận thức, triết học, tư tưởng, tình cảm, v.v.)

Thơ là hành động đi tìm những hình thái ý niệm, tức là lối tư duy nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được chuyển hóa thành hình thái nghệ thuật trong tác phẩm nghệ thuật. Nói một cách đơn giản: Thi pháp học là thi pháp học.

Đầu thế kỷ XX là thời kỳ chứng kiến ​​sự phát triển của thơ hầu khắp thế giới. Thơ hiện đại bắt đầu với chủ nghĩa hình thức Nga.

Thơ hiện đại khác với thơ truyền thống. Thơ hiện đại khác với thơ truyền thống (cuối thế kỷ 19 trở về trước) ở những điểm sau:

+ Hiểu thơ là một lĩnh vực nghiên cứu “cho xem” văn học tốt “văn học” và ngôn ngữ biểu cảm của nó chứ không nằm trong nghệ thuật thơ hay câu thơ.

+ Sử dụng nghiên cứu hệ thống, chỉnh thể thay cho nghiên cứu từng yếu tố riêng lẻ, khác biệt để khái quát hóa theo quan niệm nguyên tử luận; lấy việc nghiên cứu những biến đổi lịch sử thay cho việc nghiên cứu những nguyên lý bất biến, vĩnh cửu; nghiên cứu hướng đến người đọc hơn là dạy người viết cách sáng tác; rút ra sự khái quát hóa các phương thức truyền thông từ trong bản thân sáng tác hơn là đưa ra một công thức quy chuẩn.

Tuy có những nét nghi ngờ đặc trưng cũng như văn học, văn học tồn tại ở mọi nơi, mọi lúc trong sự đối lập với phi văn học, cho dù ranh giới giữa hai bên đã thay đổi trong quá khứ. Có đối lập thì mới có thơ. Vì vậy, phương pháp nghiên cứu thi pháp chủ yếu là miêu tả, quy nạp, hệ thống hóa và giải thích, diễn dịch hơn là xuất phát từ nguyên lý thi pháp. “tường thuật tốt”.

II. Khái niệm chính về thơ.

Vì nhấn mạnh đến vấn đề sáng tác nên lý thuyết thi pháp cổ điển thường vạch ra tiến trình văn học như sau: Cuộc đời → Nhà văn → Tác phẩm

Thơ hiện đại nhìn theo hướng ngược lại: Người đọc → Tác phẩm → Nhà văn → Thế giới thực.

Quá trình đó là: Khám phá tác phẩm hay toàn bộ tác phẩm trong sự toàn vẹn của nó để thâm nhập vào tâm hồn tác giả và thế giới, cuộc sống chung.

Để làm được điều đó, chúng ta cần xác định một số khái niệm cơ bản:

1. Tác phẩm văn học là một thế giới ý nghĩa.

Văn học không chỉ đơn thuần là chép lại những sự kiện của cuộc sống mà nhằm nắm bắt những ý nghĩa quý giá của hiện thực bằng những hình tượng sáng tạo. Ý nghĩa và giá trị của hiện thực cuộc sống bị rời rạc, phân tán, hỗn độn. Ý nghĩa và giá trị của tác phẩm nghệ thuật tập trung, nổi bật, tạo nên một thế giới riêng. Do đó, các sự kiện trong các tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa khác với các sự kiện tương tự trong cuộc sống thực. Chẳng hạn, bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương không phải để giới thiệu một món ăn dân tộc. Nó được viết để nói lên sự dịu dàng, thủy chung và bao dung của người phụ nữ trước nghịch cảnh. Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều có thực ở “lầu xanh”, nhưng trong cảnh Từ Hải gặp Thúy Kiều, thi hào Nguyễn Du kể lại:

Danh thiếp giao trên sàn hồng
Hai bên nhìn nhau bằng hai trái tim

Nhà thơ không sai khi nói điều này. Trong tình yêu của chàng, Thúy Kiều không phải là cô bán hoa, nàng là một giai nhân khác của Khuê Các, một mỹ nhân sang trọng trên lầu đỏ.

Tóm lại: Mọi sự kiện của cuộc đời, khi bước vào thế giới nghệ thuật, đều mang ý nghĩa do tác giả đưa ra, có thể khác hoàn cảnh ban đầu. Điều đó không có nghĩa là tác giả đang hạ thấp, tô đẹp cuộc sống hay cố tình bóp méo nó.

2. Hai cặp phạm trù ý nghĩa của tác phẩm văn học.

2.1. Ý nghĩa khách quan và ý nghĩa chủ quan.

Một tác phẩm văn học chứa đựng thế giới con người mà người đọc có thể đồng nhất với nó. Đó là những con người, sự vật, xung đột, tài năng, chủ đề, tính cách, số phận… mang ý nghĩa khách quan của tác phẩm văn học.

Nhưng còn một ý nghĩa khác, quan trọng hơn: ý nghĩa chủ quan. Thông qua những sự kiện, vấn đề của cuộc sống mà ai cũng biết, tác phẩm còn mang một ý nghĩa đặc biệt mà người đọc khám phá. Ngay cả các nhà thơ cũng miêu tả trăng, nhưng không ai giống ai. Vì có nhiều ánh trăng khác nhau tùy theo cách nhìn của nhà thơ (và cách nhìn của người đọc cũng khác nhau) nên đã giúp con người cảm nhận thế giới và nhân sinh phong phú hơn, mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn. Ý nghĩa chủ quan này được thể hiện bằng một hình ảnh liên tưởng, sự liên tưởng nắm bắt được một trường nhìn. Ví dụ: Thơ “Khen” của Xuân Diệu:

Vầng trăng, lồng ngực mơ ước của bao thi nhân
Đưa tay vuốt ve viên mãn
…Trăng, nốc rượu làm mờ đêm
…Hỡi mặt trăng xinh đẹp, bạn là mặt trăng ồn ào
Bạn khóc, bạn không cần sự thật
Nhớ luôn yêu để đôi mắt còn quầng.

Còn đây là tháng của Lý Bạch (Tĩnh Dạ Tử):

Đầu giường ánh trăng
(nghĩa là trăng theo nhà thơ)

và Bạch Cư Dị:

Thuyền đông lá tây đều lặng
Trăng sáng trên sông

(Viên thuốc hành tây)

Ánh trăng trở thành tri kỷ của Bạch Cư Dị, bạn thanh mai trúc mã của Lý Bạch và người tình của Xuân Diệu. Nhà thơ đưa ý nghĩa chủ quan của mình vào một hiện tượng chung của thế giới, ký thác một ý nghĩa mới vào ý nghĩa khách quan thông thường của tác phẩm.

2.2 Nghĩa bộ phận, nghĩa toàn bộ.

Để tiếp nhận một tác phẩm văn học, người ta phải hiểu từng chữ, từng câu, từng chi tiết, từng tình tiết, từng nhân vật, từng sự kiện, tức là từng bộ phận cấu thành nên tác phẩm. Nhưng cuối cùng, định nghĩa tổng thể về công việc không phải là tổng đơn giản của các định nghĩa từng phần của nó. Nghĩa chỉnh thể (toàn thể) là sự tích hợp của các nghĩa bộ phận, là cảm hứng chủ đạo chi phối toàn bộ tác phẩm, là quan niệm chung quyết định sự lựa chọn và tổ chức tác phẩm. Đại nghĩa là ý nghĩa khái quát, triết lý nhân sinh. Ở phương Đông, người khôn ngoan luôn khẳng định “Thắng tải đạo”, “Thắng đạo”… Ý chung là thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả. Vì vậy, chúng ta phải xem xét tư duy của tác giả về thế giới, con người, không gian, thời gian và lẽ sống. Ý nghĩa tổng thể của tác phẩm nghệ thuật là giới hạn cuối cùng mà người đọc muốn đạt tới và cảm nhận khi tiếp cận tác phẩm nghệ thuật.

3. Hình thức văn học nghệ thuật là hình thức ý nghĩa.

Hình thức là sự xuất hiện. Với văn học, hình thức là một văn bản bao gồm từ, câu, nhịp, vần, nét, cấu trúc, bố cục, ngoại, nội, v.v. Những hình thức của một diện mạo nghệ thuật cũng được liên kết với nội dung thể hiện.

Hình thức nghệ thuật không chỉ là phương thức vật chất mà còn là hình thức cảm nhận sự vật, hình thức chiếm lĩnh ý nghĩa quý giá của thế giới. Hình thức đó thể hiện hoạt động của người nghệ sĩ. Nhờ vậy, tác phẩm không phải là đồ vật mà là cuộc sống trong tâm trí người đọc.

Mỗi thời, mỗi thể loại, mỗi tác giả… chỉ có thể nhìn thấy một kiểu đời sống, tùy thuộc vào sự hiểu biết nghệ thuật về con người, không gian, thời gian, ngôn ngữ, cốt truyện, nhịp điệu…

Hình thức nghệ thuật vừa lặp lại vừa độc đáo đối với một nghệ sĩ. Nghiên cứu thi pháp văn học, chúng ta cần phát hiện những yếu tố lặp đi lặp lại này.

4. Tính chất lịch sử cụ thể của loại hình nghệ thuật.

Sáng tạo văn học là sản phẩm của lịch sử. Nó phụ thuộc vào tác giả, mà tác giả phụ thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ tư tưởng xã hội và các hình thái ý thức khác (như triết học tôn giáo, chính trị..). Sự sáng tạo của văn học còn phụ thuộc vào mối quan hệ giao lưu văn hóa với nước ngoài… Lịch sử vẫn tiếp diễn, mỗi thời kỳ có một hình thái riêng không thể lặp lại. Một loại hình nghệ thuật là một hiện tượng cụ thể không thể lặp lại trong lịch sử.

Thơ lịch sử nghiên cứu sự vận động của các loại hình nghệ thuật. Lịch sử thi ca sẽ phản ánh sự phát triển sức sáng tạo nghệ thuật của con người – đồng thời cũng tương ứng với trình độ văn minh nhân loại. Sự tiếp nhận thi pháp của văn học cũng cụ thể trong lịch sử.

Đặc điểm thi pháp văn học trung đại Việt Nam

Tham Khảo Thêm:  Thị hiếu thẩm mỹ là gì?

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *