Quan niệm về con người trong văn học trung đại.

quan-niem-ve-con-nguoi-trong-van-hoc-trung-dai

Quan niệm về con người trong văn học trung đại.

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thi pháp học. Mặc dù hiện nay, khái niệm này chưa được các nhà nghiên cứu định nghĩa một cách thống nhất và chặt chẽ, nhưng nó đã phần nào gợi mở cho chúng ta hướng đến đối tượng chủ yếu của văn học. Theo đó, “Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể”“hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức. Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng”. Có thể khẳng định, quan niệm chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, chính là bước đi thiết thực để đến với chiều sâu của các tác phẩm, của các giai đoạn văn học.

Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người.

Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn. Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, song khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau.

Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình”. Tức, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vàophân tích, mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tác giả, từ đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm.

Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng một cách nhìn khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”.

Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnhđời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật. Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”

Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người. Từ đó, chúng ta có thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm nghệ thuật về con người như sau:

Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn. Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm. Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng.

Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính là đối tượng thẫm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống. Người sáng tác sẽ là người vận động, suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người. Bởi người ta không thể miêu tả và tạo nên chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định.

Từ việc hướng đến xác định khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người, có thể khẳng định rằng: Chúng ta sẽ không thể hiểu một cách đầy đủ những đổi thay trong nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của văn học, nếu không quan tâm tới sự vận động của con người trong văn học, đặc biệt là vấn đề quan niệm nghệ thuật của các tác giả về con người trong văn học. Nói cách khác, nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn tới cách hiểu đơn giản về bản chất phản ánh của nghệ thuật, hạ thấp yêu cầu sáng tạo thẩm mĩ của nghệ thuật.

Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại.

Con người trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú. Nó khác biệt với con người trong văn học dân gian. Mỗi thể loại có một cách quan niệm và biếu hiện con người riêng nhưng vẫn có cái chung. Quan niệm chung chi phối văn học trung đại Việt Nam là:

1. Con người mang tầm vóc vũ trụ.

Thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống. Do đó, con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới. Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người. Người phương Đông xưa cũng quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao cảm với con người bởi con người là một “tiểu vũ trụ” có quan hệ tương thông tương cảm với “đại vũ trụ”– thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân hợp nhất). Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên – Địa – Nhân hợp thành “Tam Tài”. Con người sống trong vòng “Thiên phú địa tái” (Trời che, đất chở). Cho nên, quan niệm “Thiên – Địa – Nhân” hay “Thiên Nhân tương cảm” cổ xưa ấy đã chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật. Do đó thơ văn trung đại thường chỉ xuất hiện một con người đứng trước trời đất.

Chẳng hạn, thi đề quen thuộc của thơ trữ tình trung đại chính là con người một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ. Người anh hùng được nhắc đến với tầm vóc sánh ngang vũ trụ:

“Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.”

(Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời)

(Đăng Dung – Cảm hoài)

Hay trong bài thơ Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), không gian nghệ thuật hiện lên là một không gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành tráng, mà trong đó, con người dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vươn lên ngang tầm và có khát vọng làm chủ trời đất, vũ trụ, chinh phục thiên nhiên. Tác giả đã phóng lớn ngọn giáo của mình cho tương xứng với kích thước của đất nước, của vũ trụ:

“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”

(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng dũng nuốt sao Ngưu)

Ở bài Tự tình nổi tiếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hình tượng con người vũ trụ nổi bật rõ:

“Trơ cái hồng nhan với nước non”.

Con người được đặt giữa không gian mênh mông của vũ trụ nhưng không hòa nhập vào không gian bao la rộng lớn ấy mà cô độc, lẻ loi một mình. Nữ sĩ đưa từ “trơ” ra đầu câu như để nhấn mạnh sự đối lập của một cá thể đơn lẻ với cả vũ trụ mênh mông, để gia tăng cảm giác cô đơn, quạnh vắng trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Khi bất đắc chí, đau đáu vì cuộc duyên không trọn, con người tìm về với thiên nhiên như trở về nguồn cội nhưng lại bắt gặp:

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Thiên nhiên và lòng người vốn tương ứng tương cảm và có sự đồng điệu. Thế nên con người đang đau đáu vì cuộc duyên không trọn vẹn thì vầng trăng kia cũng chỉ có thể là vầng trăng khuyết giữa trời đang dần xế bóng.

Chính vì vậy, ở đây, con người không xuất hiện với tư cách cá nhân. Họ buồn không phải một cá nhân buồn, mà cả vũ trụ cũng buồn theo, đúng như Nguyễn Du đã từng nói:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Đó là “con người vũ trụ” sống trong quy tắc “hô – ứng”. Vui buồn của mỗi con người buộc cả vũ trụ chuyển động.

“Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Sự miêu tả gián tiếp trong thơ trung đại chính là bị sự chi phối của quan niệm vũ trụ đó. Con người không được miêu tả như một hiện tượng xã hội mà được như là một bộ phận của thiên nhiên, của vũ trụ. Chẳng hạn như khi nói sự bình phục của Kiều, thì Nguyễn Du viết:

“Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Về tình yêu của từ Hải và Kiều, thì:

“Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Ngoài ra, do quan niệm vũ trụ trong văn học ta bắt nguồn từ rất xa xôi, gắn liền với những quan niệm thần bí, tướng số. Cho nên, đặc biệt đối với những nhân vật xuất chúng, tác giả thường miêu tả thành những con người dị tướng, phi thường, hun đúc một sức mạnh nào đó của vũ trụ. Đó là những con người “chịu mệnh trời”. Từ Hải chính là nhân vật được Nguyễn Du xây dựng dựa trên quan niệm này:

“Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tất rộng thân mười thước cao”.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Đây là con người mà chí khí và tài năng được đo bằng chiều kích của vũ trụ. Bởi thế, nói đến Từ Hải, người đọc như thấy hiện rõ trước mắt mình một hình ảnh cao rộng của trời đất và vũ trụ.

Như vậy, hình tượng con người vũ trụ trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam đã cho chúng ta thấy được quan niệm về con người của các tác giả trung đại. Con người đó là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn vũ trụ, thiên nhiên qua đất trời, mây nước, cỏ cây, muông… với cái đạo vững bền, sâu thẳm của nó. Đây là nét khu biệt không thể lẫn so với các kiểu con người trong các thời kì sau của văn học.

2. Con người của đạo đức.

Toàn bộ xã hội trung đại được nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáo đạo đức. Cho nên, con người luôn được nhìn nhận ở phương diện đạo đức luân lí. Vì thế, văn chương xưa chia xã hội thành hai tuyến: thiện – ác, tốt – xấu với mục đích, chức năng nổi bật là giáo huấn:

“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.”

(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)

Chính vì vậy, con người sống theo luân lí đạo đức, theo lí trí thì được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những luân lí trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách.

Bên cạnh đó, con người trong văn học trung đại còn là con người của tấm lòng, con người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc trưng của họ. Bởi vậy, cái có giá trị nhất của con người thuộc về tấm lòng, muốn đánh giá về một con người là xem tấm lòng của họ như thế nào. Trong Truyện Kiều, để “tỏ lòng” hiếu thảo, Kiều đã bán mình chuộc cha. Đó là một hành động phi thường, trên thực tế nàng có thể vay tiền chuộc cha, nhưng như thế thì quá bình thường. Tương tự, Kiều Nguyệt Nga cũng thể hiện tấm lòng trinh liệt của mình khi ôm bức chân dung Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn.

Như vậy, sự “tỏ lòng” là rất quan trọng trong văn học trung đại. Chính nó đã làm cho hệ thống sự kiện trở nên gay gắt, căng thẳng hơn chứ không hề xây dựng được cốt truyện đơn thuần trên những việc bình thường hàng ngày.

Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, vào thế kỷ thứ XV, là một nhà quân sự thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc, một nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc. Trong tác phẩm Gia huấn ca, ông đã đề cao đạo đức luân lí trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Đạo hiếu được nhấn mạnh rất rõ:

“Dù nội ngoại bên nào cũng vậy
Đừng tranh giành bên ấy, bên này
Cù Lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.”

Còn phận làm con đối với cha mẹ thì:

“Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc
Xem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khi
Người đà vô sự ta thì an tâm”.

Trong truyện Nôm, các nhân vật luôn luôn bày tỏ tấm lòng rất rõ rệt. Các nhân vật tự trừu tượng hóa, đem tấm lòng ra đối diện với nhau. Trong Truyền kỳ mạn lục hình tượng con người đạo đức cũng được xuất hiện, có thể kể đến nhân Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên. Với hình ảnh người trí thức Tử Văn có tính tình cương trực, dũng cảm “thấy sự gian tà thì không chịu được” Nguyễn Dữ hướng đến đề cao con người của công lý, chính nghĩa, đồng thời phê phán và trừng trị những kẻ phi đạo đức, xảo quyệt, làm hại nhân dân.

Tóm lại, cùng với con người vũ trụ, hình tượng con người đạo đức cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học trung đại. Qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống nhân vật của một thời kỳ văn học.

3. Con người của sự tôn quý, phi thường (“đấng”, “bậc”).

Cùng với mô hình con người mang tầm vóc vũ trụ và con người của đạo đức là thái độ tôn xưng với những con người tài tình, phân biệt với những người khác. Trong văn học trung đại còn tồn tại một quan niệm khác về con người đó là quan niệm về con người “đấng”, “bậc”. Điều này được thể hiện rõ nét nhất là trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Hiếm có một tác phẩm thơ nào trong văn học Việt Nam thời xưa trong đó tác giả bày tỏ nhiệt tình công khai và mạnh mẽ với nhân vật như Truyện Kiều. Và càng yêu thương nhân vật chính diện bao nhiêu, tác giả lại càng căm ghét, khinh miệt nhân vật phản diện bấy nhiêu. Nhà thơ thể hiện tư duy phân loại trong việc cấu tạo giá trị cho mỗi loại nhân vật. Ở loại nhân vật chính diện – những “đấng”, “bậc” – bảng giá trị có liên quan đến sắc đẹp, tài năng và nhân cách cao thượng, phi thường. Trái lại, những nhân vật thuộc loại phản diện đều bị tác giả đặt ra ngoài bảng giá trị.

Cách miêu tả của Nguyễn Du chịu sự chi phối của quan niệm đấng bậc về con người. Trong quan niệm của ông, những con người như Kim Trọng, Thúy Kiều, Từ Hải là những “đấng”, những “bậc” đáng kính trọng. Họ là “đấng tài hoa” (Đạm Tiên); “bậc tài danh” (Kim Trọng); “bậc bố kinh” (Thúy Kiều); “đấng anh hùng” (Từ Hải)… Đối với những nhân vật ấy, tác giả dành cho những lời trang trọng, tượng trưng. Còn bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh là bọn vô loài, bọn chúng không có mẫu mực gì cả, mỗi đứa một vẻ, đều là “tuồng” vô lại. Bọn chúng được miêu tả theo đặc tính thực tế về nghề nghiệp cá nhân theo kiểu “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”, hoặc: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”… rất hiện thực.

Như vậy, con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du rất độc đáo, theo kiểu phương Đông. Cách “quan niệm về con người” này chi phối một giai đoạn rất dài của Văn học Việt Nam gần mười thế kỷ.

Có ý kiến cho rằng, mọi sự thay đổi trong văn học đều bắt nguồn từ sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Do vậy, đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam là bước đi ngắn nhất để chúng ta đến gần với cái bản chất nội tại của tác phẩm, nắm được sự thay đổi, cách tân và vận động của cả một giai đoạn, một thời kì văn học trung đại, đồng thời nêu bật được sức hấp dẫn của thời kì văn học này cũng như khẳng định những giá trị không lỗi thời của nó về sau.

Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học

Quan niệm về thời gian trong văn học trung đại

Tham Khảo Thêm:  Hình thức không gian nghệ thuật trong thơ trung đại.

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *