Một số điểm khác biệt trong phương thức phản ánh giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn.

một chọi một

Có một số khác biệt trong cách suy nghĩ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn.

I. Khái niệm.

1. Chủ nghĩa hiện thực.

chủ nghĩa hiện thựcc là trào lưu nghệ thuật lấy hiện thực xã hội và những vấn đề thực tế của con người làm mục tiêu sáng tác. Chủ nghĩa hiện thực nhằm cung cấp cho công chúng nghệ thuật những hình ảnh chân thực, trong sáng, quen thuộc về cuộc sống và môi trường xã hội xung quanh.

chủ nghĩa hiện thực là phương pháp sáng tác xuất hiện ở Pháp, Ý, Anh, Nga vào thế kỷ XIX, sau đó có ảnh hưởng lớn đến các nước khác.

Cơ sở hình thành chủ nghĩa hiện thực là sự thất vọng của các nhà văn hiện thực đối với thiết chế xã hội, nên họ rũ bỏ những ảo tưởng, hy vọng và hướng về hiện thực xã hội để phơi bày những nhược điểm của nó. Có thể kể đến những đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phương Tây như Honoré de Balzac, Gustave Flaubert, Stendhal…

Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện thực xuất hiện với tư cách một trào lưu và một phương thức sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XX. Chỉ trong hơn một thập kỷ, chủ nghĩa hiện thực đã đạt đến đỉnh cao với những cây bút kiệt xuất như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và những kiệt tác như “Tắt đèn”, “Số đỏ”, “Chí Phèo”…

2. Chủ nghĩa lãng mạn.

chủ nghĩa lãng mạn là một phương pháp sáng tác bắt nguồn từ châu Âu vào cuối thế kỷ 18, và trong hầu hết các lĩnh vực đã đạt đến đỉnh cao vào khoảng thời gian từ 1800 đến 1850. Tác phẩm lãng mạn đề cao cảm xúc. Trung cổ đến cổ điển.

Cơ sở của chủ nghĩa lãng mạn là sự bất hòa và bất lực trước hiện thực xã hội khiến nhà văn dệt nên những mộng tưởng để đắm mình trong đó. Do sự khác biệt về quan điểm và tình cảm thẩm mỹ, chủ nghĩa lãng mạn chia thành hai khuynh hướng: chủ nghĩa lãng mạn tích cực và chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực. Những đại diện chính của chủ nghĩa lãng mạn là George Byron, François Chateaubriand, Victor Hugo, Alfred de Musset…

Tham Khảo Thêm:  Kịch bản văn học: đặc trưng và phân loại

Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX, phát triển song song với chủ nghĩa hiện thực. Những nhà văn tiêu biểu nhất của chủ nghĩa lãng mạn là Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân…

II. Điểm khác biệt.

1. Về nguyên tắc, phản ánh đúng sự thật.

Chủ nghĩa hiện thực đề cao những nguyên tắc lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa hiện thực tập trung vào mô tả khách quan của cuộc sống.

Chủ nghĩa lãng mạn coi trọng nguyên tắc biểu đạt. Văn học lãng mạn sáng tạo nhân vật, hình tượng, tình huống để thỏa mãn sự thể hiện giá trị và tình cảm mãnh liệt của nhà văn. Nhân vật hành động theo ý muốn chủ quan của tác giả, bộc lộ trực tiếp tư tưởng của nhà văn.

2. Về chủ đề, cảm hứng, lí tưởng thẩm mĩ.

* Chủ thể:

– Đề tài của văn học hiện thực là những vấn đề xã hội nóng bỏng, mâu thuẫn và xung đột giai cấp.

– Đề tài của văn học lãng mạn là tình yêu, thiên nhiên, quá khứ, văn hóa…, những vấn đề muôn thuở, trường tồn.

* Cảm hứng và giá trị thẩm mỹ:

– Chủ nghĩa hiện thực: Cảm hứng chủ đạo là phê phán, phơi bày và phê phán hiện thực xã hội. Giá trị thẩm mỹ của chủ nghĩa hiện thực là giá trị nhân văn. Chủ nghĩa hiện thực là về bình thường. Đối với nhà văn hiện thực, cái đẹp gắn liền với hiện thực.

– Chủ nghĩa lãng mạn: Các nhà văn lãng mạn luôn phấn đấu vì cái phi thường với cái phi thường. Chẳng hạn, truyện ngắn “Chữ người tử tù” đã tạo nên một không khí thiêng liêng độc đáo. Người cũng tài hoa và dũng cảm một cách rất nghệ sĩ như Huấn Cao. Văn học lãng mạn cũng xây dựng những hình tượng con người vượt ra ngoài hiện thực của hoàn cảnh đời sống, hướng tới cái tốt đẹp, thánh thiện hơn hiện thực. Đôi khi những lời chúc không rõ ràng nhưng chỉ cần có một điểm tựa niềm tin của mọi người là đủ.

Tham Khảo Thêm:  Tiểu thuyết sử thi là gì?

3. Về điểm nhìn nghệ thuật.

Cảm thụ nghệ thuật có một vị trí quan trọng trong văn học vì “Đây là vị trí người kể nhìn và miêu tả các đối tượng của tác phẩm. Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, hứng thú và đặc điểm của chủ thể để tạo nên diện mạo nghệ thuật, giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do mang đến cho con người một cách nhìn mới về cuộc sống. Sự thay đổi trong nghệ thuật bắt đầu từ sự thay đổi trong quan điểm.” (Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi).

Điểm nhìn nghệ thuật có thể chia thành các điểm nhìn: không gian, thời gian, tâm lý, quang học, theo một mô hình văn hóa, theo một hệ tư tưởng…; thể hiện qua các biện pháp nghệ thuật, lời kể riêng, cách gọi sự vật, cách dùng từ, kiểu đặt câu; nhằm mục đích cung cấp cho người đọc một cách nhìn sâu hơn vào cấu trúc nghệ thuật và xác định các đặc điểm phong cách của nó. Ở đây, do giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ không khai thác hết các khía cạnh của lý thuyết điểm nhìn mà chỉ dừng lại ở sự khác biệt cơ bản trong điểm nhìn của văn xuôi hiện thực và văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Chủ nghĩa hiện thực: Với quan điểm nhà văn là thư ký của thời gian và tiểu thuyết là hiện thực của cuộc sống, văn học hiện thực chủ trương tái tạo hiện thực theo nguyên tắc khách quan, không tô điểm, né tránh các hiện tượng xã hội tiêu cực. Vì vậy, điểm nhìn trần thuật của các nhà văn hiện thực là điểm trần thuật khách quan, thường xa rời nhân vật. Với điểm nhìn này, người đọc sẽ bị thuyết phục về tính xác thực của các sự việc, tình tiết và chi tiết, mang lại cho tác phẩm một màu sắc khách quan tối đa.

Tham Khảo Thêm:  Thi tứ (tứ thơ) là gì?

Chủ nghĩa lãng mạn: Trái ngược với văn học hiện thực nhìn đời sống bằng con mắt khách quan của chính nó (điều này tất nhiên là tương đối, vì mọi tác phẩm văn học đều nhìn thế giới qua con mắt chủ quan của người nghệ sĩ), nhà văn lãng mạn nhìn thế giới như họ muốn. Nói cách khác, quan điểm của nhà văn lãng mạn là từ trong cái tôi của mình, mục đích chính của người nghệ sĩ không phải là phô bày sự thật mà là thỏa mãn nhu cầu thể hiện cái tôi của mình. Có thể nói, chủ nghĩa lãng mạn là sự đề cao ý thức về cái tôi cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu đề cao mộng tưởng, chi phối tình cảm, đề cao tính độc lập. Vì nhìn thế giới theo ý mình muốn nên các nhà văn lãng mạn thường có xu hướng thỏa hiệp hiện thực, hoặc trốn tránh hiện thực, hoặc thay đổi hiện thực theo hướng hiện thực.
hướng giữa.

3. Nghệ thuật diễn đạt.

Văn học hiện thực giá trị của sự thật trong chi tiết.

Chi tiết là đơn vị nhỏ nhất của bố cục và là chất liệu xây dựng nên hình tượng văn học. Chi tiết có thể là một lời nói, một nét tính cách, một tình tiết của một mối quan hệ…

+ Chi tiết chân thực là chi tiết có thật hoặc có thể phù hợp với hiện thực cuộc sống.

+ Vai trò của chi tiết hiện thực: mỗi chi tiết đều có mục đích độc lập, góp phần dệt nên những hình ảnh trong sáng, tính cách điển hình trong những hoàn cảnh chung.

văn học lãng mạn thường dùng phép tương phản, đối lập, cường điệu, phóng đại, dùng ngôn ngữ giàu sức biểu cảm.

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *