Lí luận văn học phương Ðông (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam).

li-luan-van-hoc-phuong-dong-trung-quoc-nhat-ban-an-do-viet-nam

Lí luận văn học phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam).

1. Lí luận văn học cổ Việt Nam.

Cho đến nay, các tài liệu lý luận về văn học cổ Việt Nam vẫn chưa được sưu tầm đầy đủ. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu hiện có, chúng ta có thể hình dung rằng lý thuyết về văn học cổ Việt Nam đã có từ lâu (ít nhất là từ thế kỷ X, cùng thời điểm với sự xuất hiện của văn học viết). ) và tương đối phong phú. Dưới đây là một số điểm nổi bật về các vấn đề văn học mà tổ tiên chúng ta đã chú trọng:

Về chủ đề và nội dung văn học:

Lê Quý Đôn viết: “…thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là…”[1] Nguyễn Văn Siêu viết: “Văn và Đạo tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực ra văn bắt nguồn từ đạo”.

– Giữa văn và đời có mối quan hệ mật thiết: Phan Huy Chú: “Xem văn thì biết Đạo”.

Nữ bác sĩ viết: “Văn học là hiện trạng nó đã từng là.”

Về bản chất và chức năng của văn học: Tính chân thực là yêu cầu quan trọng nhất trong văn chương.

Lê Quí Đôn: “Ba trăm bài thơ của Thiên Thi phần lớn là của nông dân và phụ nữ, nhưng cũng có những người viết sau này không thể theo kịp. Đó là bởi vì nó là sự thật.”

Ngô Thời Nhậm nghĩ về bài thơ đó “Miễn là trong sáng, giản dị, thẳng thắn, không dối trá, lừa lọc…”

Các chức năng của tư duy trong thơ và văn được nhấn mạnh:

Ngô Thì Sỹ viết: “Văn liên quan đến đời, nhưng đạo lấy nhân làm đầu ở học”.

Ngô Thì Nhậm viết: “…cuối cùng, tập trung vào việc ngăn chặn tất cả những điều xấu, giữ gìn những điều tốt đẹp là phần chính của bài thơ.”

Về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức: Nội dung và hình thức phải thống nhất, nhưng nội dung phải đi trước.

Nguyễn Đức Đạt viết: “Người xưa lấy trí làm xương, văn làm thịt, nhiều xương thì cứng, nhiều thịt thì yếu. Xương thịt phải bằng nhau; ngược lại, thà mạnh còn hơn yếu.”

Của di sản truyền thống và mua lại nước ngoài; chống tư duy cũ:

Nguyễn Trường Tộ viết: “Cho đến nay, nhiều người vẫn chưa hiểu được sự đổi thay xưa và nay mà mạnh miệng ca ngợi người xưa, cho rằng đời sau không thể nối tiếp, dù thế nào cũng muốn quay về quá khứ. Thế là con người Tống Nho đã khiến cho đất nước lầm lạc và trở thành một thứ mĩ học không bao giờ vực dậy được. Rõ ràng là trong quá khứ, mọi thứ khác xa với cuộc sống ngày nay. Một người đàn ông khôn ngoan không nhìn lại quá khứ, mà chỉ quan tâm đến tương lai.”

Chống nô lệ ngoại bang:

Hoàng Đức Lương viết: “Một nước văn hiến, đã mấy trăm năm dựng nước, không có sách làm gốc, mà đi xa như vậy để nghiên cứu văn thơ đời Đường, chẳng lẽ đáng tiếc sao?”

Nguyễn Hạnh viết: “… tìm thấy nó ở nước ngoài tốt hơn là tìm thấy nó ở trong nước”.

Về người sáng tạo: Người sáng tạo phải có tài năng và kiến ​​thức.

Tham Khảo Thêm:  Thơ tự do. - Theki.vn

Lê Hữu Kiều viết: “Người làm được bài thơ hay như vậy phải là người có tài, có nét độc đáo, có tấm lòng lớn, nhưng cũng là người có học rộng, hiểu rộng về văn chương”.

Người sáng tác phải lịch lãm và từng trải.

Phan Huy Vĩnh: “Không ai không đạt được một phép lạ sau khi đi hàng ngàn dặm.”

Còn rất nhiều vấn đề văn học khác mà cha ông ta đã đề cập nhưng không thể kể hết ra đây. Do thiếu tư liệu nên chúng tôi chưa đánh giá được đúng mức độ, tính chất di sản văn học nghệ thuật cổ của cha ông ta.

2. Lý luận văn học cổ đại Trung Quốc:

Lý luận về văn học cổ đại Trung Quốc đã đạt được trong thời kỳ phong kiến. Do phát triển trong khuôn khổ chế độ phong kiến ​​nên triết học Trung Quốc chưa đạt tới chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng triệt để, nhiều học thuyết Trung Quốc cổ đại dựa trên cơ sở đó chưa có trình độ khoa học cao. Tuy nhiên, trong mấy nghìn năm phong kiến, Trung Quốc đã xuất hiện nhiều nhà lý luận văn học nổi tiếng: Khổng Tử, Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Viên Mai…

nho giáo (551 – 479 TCN) đã đặt nền móng cho lý luận văn học và thẩm mỹ truyền thống Trung Quốc trong vài nghìn năm. Với Luận ngữ của ông, việc nghiên cứu văn học Trung Quốc đã được khởi xướng.

Tham Khảo Thêm:  Thơ trào phúng. - Theki.vn

Ông có một quan niệm khá toàn diện về văn học; Văn học liên quan đến xã hội, chính trị, đạo đức và có giá trị trí tuệ.

“Thơ khơi dậy ý chí, giúp thuận theo phong tục, giao du với mọi người, bày tỏ sự đau buồn, thờ cha gần, thờ vua xa, và biết nhiều tiếng chim muông, cây cỏ.” (Luận án).

“Tóm lại 300 bài kinh, đừng suy nghĩ vô ích” (Luận án).

“Tụng 300 bộ kinh, giao việc không được, sai sứ đi nước ngoài không được, có ích gì”. (Luận án).

Lưu Hiệp (465 – 520) Với tác phẩm Văn tâm điêu long – một lý luận văn học nổi tiếng có ảnh hưởng đến hàng ngàn năm sau, có sự hiểu biết toàn diện về văn học: bản chất, chức năng, nội dung, hình thức… của văn học. Và riêng về thể loại tản văn, ông bàn luận khá tỉ mỉ.

“Thơ giữ nét chữ, mở lối thiện lành, ngăn ngừa điều ác”.
– “Có thời kỳ hưng thịnh, có thời kỳ suy tàn”.
– “Không liên quan gì đến văn chương, có thể không phải là người lo việc lớn, văn chương ra vẻ bề ngoài, tô vẽ nên tính tốt, văn chương phải là trị quốc; Văn chương không phải là thứ không làm sáng bản thân nó cũng có thể làm sáng cả nước.

vâng Ju Di (772 – 846), nhà lý luận xuất sắc thời Đường. Những bức thư của ông gửi cho Nguyên Chấn có thể coi là cương thi của đời Đường. Quan niệm văn chương của ông là hiện thực và rất bình dân: “Quân, thần, dân, sĩ, vật, chí, chí, vô tư”.

Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nội dung phải thống nhất với hình thức, nội dung có trước hình thức. Anh ấy có một cảm giác thú vị về thơ “Tình yêu, tiếng mèo, tiếng hoa, ý nghĩa thực sự”.

Viên Mai (1716 – 1797) có nhiều tư tưởng cụ thể và sâu sắc về thơ ca, ông đề cao tính hiện thực, di sản và tính sáng tạo, bản chất con người trong thơ ca. “Thơ khó vì chân thực, mắt chưa thấy, chân chưa tới mà miễn cưỡng làm thì khác nào sưởi nắng dưới mái hiên”; “Không học cổ nhân thì chẳng ra gì, hoàn toàn giống cổ nhân thì chẳng thấy mình đâu cả”; “Đàn bà, con gái, dân quê dốt nát, thỉnh vài câu, Lí Bạch, Đỗ Phủ có sống lại cũng phải cúi đầu”.

Cần lưu ý rằng: Trong lịch sử lý luận văn học cổ đại Trung Quốc, ngoài những nhà lý luận có quan niệm nghệ thuật dân gian và chủ nghĩa hiện thực, luôn có những người có quan niệm bảo thủ về nghệ thuật. , duy tâm, phản động. Chẳng hạn như:

Tham Khảo Thêm:  Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học

Trang Tử (369 – 286 TCN) với thuyết “vô điều kiện” và “tương đối tính” đã giải thích cái đẹp là tương đối, là “bất khả tri”.
Hàn Dũ (786 – 824) đề cao “Vạn y minh đạo” và “Đạo” theo ông là “Đệ nhất chi vương”.

Chu Đôn Di (1717 – 1073), nói “Văn di tải đạo”. Văn chương là để chở đạo, như xe để chở hàng. Bánh xe và trật bánh không được trang bị gì, đó là một sự lãng phí tiền bạc, chứ đừng nói đến một chiếc xe hơi?”

Tóm lại: Tư tưởng thẩm mĩ và lí luận văn học của Trung Quốc thời phong kiến ​​đã phát triển gần 3000 năm. Dù đã nhiều lần vượt ra khỏi giới hạn của suy nghĩ chính thống để đạt được những lập luận khả thi. Nhưng chủ yếu, sự phát triển đó nằm trong khuôn khổ của Nho giáo và Đạo giáo.

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *