Đặc trưng thi pháp của truyền thuyết.

dac-trung-thi-phap-cua-truyện-thuyet

Phần thơ của truyền thuyết.

1. Cách lập kế hoạch.

Truyền thuyết không có sự đa dạng và nghệ thuật chung về kiểu cốt truyện. Nhìn chung, cốt truyện của truyền thuyết đơn giản và ngắn gọn. Đặc điểm này được hình thành do nhu cầu về một câu chuyện ngắn, đáng nhớ để dễ dàng truyền miệng trong lịch sử. Cốt truyện của truyền thuyết có thể được chia thành ba phần:

– Nguồn gốc nhân vật:

Giới thiệu hoàn cảnh xuất hiện của nhân vật, thường là sự ra đời lạ lùng từ sự kết hợp lạ lùng (Thánh Gióng giẫm chân khổng lồ mang thai 12 tháng; Lê sinh ra Lôi, sáng rực. Nhà ngập tràn sắc đỏ) , mùi lạ khắp xóm; Nguyễn Huệ khi sinh ra có hai con hổ chầu hai bên…)

– Tài năng, tính cách sự nghiệp:

Tài năng và sự nghiệp của nhân vật chính là cơ sở để tác giả dân gian ca ngợi, cảm phục nhân vật lịch sử. Do đó, kích thước, sức mạnh và hiệu suất của nhân vật là đáng kinh ngạc

Ông khổng lồ trong truyện Ông khổng lồ đúc chuông có thể đổ tất cả đồng trong kho vào chiếc thúng của mình nhưng chiếc thúng lại trống rỗng; Nhưng Kiều có thể đi ban đêm vẫn thấy vật nhỏ, đi dưới nước thấy tôm tép, có khi bơi dưới nước sáu bảy ngày vẫn còn sống; Mai Thúc Loan đầu hổ, mắt rồng, tay khỉ, dũng cảm đa tài, ngoài sức tưởng tượng của mọi người; Bà. Triệu có mặt hoa, tóc mây, mắt ngọc, môi đào, mũi hổ, trán rồng, đầu beo, hàm én, tay dài qua đầu gối, giọng nói như chuông lớn, mình dài chín thước, ngực ba cân. dài một mét, eo rộng, mười ôm, hai chân đi năm trăm dặm một ngày, sức mạnh như gió thổi vào cây, tay chân tung cước như thần, mỹ nhân động lòng người.

– Kết thúc sự ra đời của nhân vật:

Vì hầu hết các nhân vật trong lịch sử đều có những việc làm xả thân vì nước, vì cộng đồng nên nhân dân luôn ghi nhớ và suy ngẫm về những truyền thuyết có kết thúc tương tự. Hầu hết các kết thúc đều theo công thức hoặc nhân vật được tôn vinh, sắc phong, hoặc nhân vật được người đời ca tụng, hoặc trở thành hiển linh, phong thánh để tiếp tục phụng sự dân, giúp nước.

Sau khi Hai Bà Trưng mất, nhân dân trong tỉnh thương xót, lập đền thờ ở cửa sông Hát Giang để thờ cúng, mọi tai họa ập đến đảo đều thành sự thật. Hai bà còn giúp Lý Anh Tông cầu mưa chống hạn lớn. Nhà Trần còn được đời đời phong tặng danh hiệu “Đức Thánh anh hùng thắng, phú quý thuần khiết”. Bà. Triệu chết nhưng linh hồn không tan chảy mà luôn tỏ ra phục thù. Tương truyền, Bà Triệu giúp Lý Bôn phá quân Lương nên khi lên ngôi, tạ ơn phò tá đã sai mình lập đền, xây lăng…

2. Cách xây dựng nhân vật.

Nhân vật lịch sử là do lịch sử tạo ra. Tuy nhiên, nhân vật huyền thoại không phải là bản sao của lịch sử mà là những nhân vật lịch sử được tái tạo, xây dựng một cách tốt đẹp từ cốt lõi của hiện thực. Bằng tình yêu thương, lòng tự hào và lòng biết ơn sâu sắc, con người đã dệt nên nhân vật những sắc màu lung linh, lấp lánh của huyền thoại. Vì vậy từ xuất thân, nhân thân đến diện mạo, dung mạo, tài năng và cả sau khi chết… nhân vật vượt ra khỏi hình ảnh thực của đời sống (chính sử) để trở thành hình tượng của thần thoại (truyền thuyết).

Nhân vật huyền thoại đôi khi trở thành nhân vật trung tâm của hàng loạt truyền thuyết (Truyền thuyết Hai Bà Trưng, ​​Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ, v.v.)

So với nhân vật “Thần” của thần thoại, nhân vật huyền thoại phần lớn là con người. Nếu có thần thánh thì cũng chỉ là hiện thân hiển linh ở cuối câu chuyện mà thôi. Nhưng nhìn chung, vì là nhân vật có thật trong lịch sử nên các nhân vật truyền thuyết đều có lai lịch tương đối rõ ràng, hành động, việc làm cụ thể, đôi khi là cả lời nói (Như Thần Kim Quy, An Dương Vương, Trọng Thủy, Mỵ Châu…).

3. Thời gian – không gian nghệ thuật.

– Khoảng thời gian:

Khái niệm thời gian huyền thoại chưa được xác định cụ thể. Vì liên quan đến các sự kiện lịch sử có thật nên so với thời gian mơ hồ của thần thoại và thời gian nhàn rỗi của truyền thuyết, thì thời gian của truyền thuyết rõ ràng hơn.

Cùng điểm qua một số chi tiết của giai đoạn truyền thuyết: Bà Triệu – Triệu Thị Trinh sinh ngày mồng 2 tháng 10 năm Bính Ngọ, lúc bấy giờ nước ta dưới ách đô hộ. của quân Ngô xâm lược. Nhân vật Khổng Lồ sống ở thời Lý. Nhưng Kiều đã tham gia vào cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của nhà Trần. Quận He của triều Lê…Các yếu tố thời gian giống nhau và không rõ ràng. Điều này cho thấy người dân rất có ý thức kiểm chứng những truyền thuyết được truyền từ đời này sang đời khác là những sự kiện, nhân vật có thật, kể cả những yếu tố thần thoại xung quanh sự kiện, nhân vật đó.

Về không gian:

Những nhân vật có lĩnh vực hoạt động cụ thể hoặc tương đối cụ thể. Nó thể hiện nơi cư trú và hoạt động trong lịch sử của người Việt cổ. Ngoài ra, một số lĩnh vực của truyền thuyết rất giống với lịch sử và hữu ích hơn trong việc viết sử. Khảo sát truyền thuyết Việt Nam, chúng ta thấy có một hiện tượng phổ biến là không gian luôn được đặt ở đầu và cuối truyện. Mở đầu truyện, khoảng trống có ý nghĩa xác định nhân vật có nguồn gốc rõ ràng, lai lịch cụ thể. Ở cuối truyện, không gian có tác dụng đưa yếu tố hoang đường về gần với hiện thực. Và điều đó có ý nghĩa như một lời khẳng định với mọi người rằng truyền thuyết và lịch sử là một.

Tham Khảo Thêm:  Đặc điểm khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực sau 1975

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *