Chủ nghĩa hiện thực phê phán.

chu-hien-thuc-phe-phan

chủ nghĩa hiện thực phê phán

1. Lịch sử hình thành.

Sự xuất hiện của một trào lưu văn học bao giờ cũng dựa trên các điều kiện chính trị, xã hội và văn hóa. Ra đời ở châu Âu thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện thực cũng không ngoại lệ.

Các khía cạnh chính trị và xã hội: Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, giai cấp tư sản đã nắm địa vị thống trị và ngày càng bộc lộ tính chất phản động, áp bức công nhân và người lao động. Mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội lúc này là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Phong trào công nhân cũng tiếp tục phát triển, đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt. Hiện thực hôm nay đòi hỏi nhà văn phải “đào sâu, tìm tòi” để khám phá bản chất của xã hội.

Văn hoá: Trong thời kỳ này, triết học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội có những bước phát triển vượt bậc. Con người đã đạt đến trình độ hiểu biết về thế giới, về tự nhiên, xã hội và về chính con người – đối tượng trung tâm của văn học. Bước này giúp nhà văn có nhận thức sâu sắc hơn về con người, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội.

2. Nhân vật trung tâm và cảm hứng chủ đạo.

Các nhân vật của phong trào hiện thực tương đối rất nhiều. Engels từng nói rằng Bộ Đời sống của Banzac ghi lại lịch sử nước Pháp thế kỷ 19 với hàng nghìn nhân vật. Các nhân vật trung tâm của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX là những kẻ phản diện tư sản. Họ có thể xuất thân khác nhau, nhưng một khi đã bị cuốn vào xã hội tư sản thì đều “bị cắt đứt nghiêm trọng, giữa người với người không còn mối quan hệ nào ngoại trừ quyền lợi và cách thức thanh toán”. tiền bạc chẳng nghĩa lý gì”. Điều này được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của Banzac, Standan…

Với nhân vật phản diện trung tâm, cảm hứng chủ đạo của văn học hiện thực là phê phán. Theo ý kiến ​​của M.Gooki, nó thường được gọi là “Chủ nghĩa hiện thực phê phán”. Cụm từ “Chủ nghĩa hiện thực phê phán” cũng phân biệt với “Chủ nghĩa hiện thực xã hội” sau đó.

3. Nguyên lý tạo dựng sự sống.

Hệ thống nguyên tắc thể hiện cuộc sống là một trong những bộ phận quan trọng phân biệt trào lưu hiện thực với các trào lưu văn học khác bởi mỗi trào lưu văn học đều xác lập cho mình một hệ thống nguyên tắc riêng.

Một. Nguyên tắc lịch sử – cụ thể.

Nguyên tắc cụ thể lịch sử đối lập với nguyên tắc chủ quan của chủ nghĩa lãng mạn. Banzac – một trong những cây đại thụ của chủ nghĩa hiện thực Pháp tự coi mình là người thư kí trung thành của thời đại, “tôi tả thực đi bộ” (Nông dân). Đồng tình với ông, Standan cho rằng nghệ thuật là “Tấm gương chuyển động trên con đường lớn”. Nói về “tính lịch sử”, tức là nhìn nhận sự vật trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Nói đến cái “cụ thể”, tức là nói đến một quan hệ xã hội, một hoàn cảnh mâu thuẫn, một mâu thuẫn giai cấp cụ thể. Vì lý do này, các tác phẩm văn học và mục tiêu nghệ thuật phải phản ánh những vấn đề cốt lõi của cuộc sống.

Tham Khảo Thêm:  Tùy bút là gì? - Theki.vn

b. Nguyên tắc đảm bảo tính xác thực của chi tiết

Đó cũng là một nguyên tắc diễn giải lại cuộc sống phân biệt chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa lãng mạn. Chi tiết của tác phẩm có thể hiểu là chi tiết tâm lý, chi tiết sinh hoạt, cảnh vật… Nếu như chủ nghĩa lãng mạn có nguyên tắc tái hiện đời sống chủ quan, ít chú ý đến hiện thực trong chi tiết. Các chi tiết trong tác phẩm phải chọn lọc, hợp lý, liên hệ chặt chẽ với môi trường, hoàn cảnh, tâm lý nhân vật. Để phát biểu về những vấn đề quan trọng của cuộc sống, nhà văn hiện thực phải có khả năng tìm kiếm và lựa chọn.
chi tiết.

c. Nguyên tắc chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa các nhân cách điển hình và hoàn cảnh điển hình

Tôn trọng sự thật khách quan, xem xét sự vật dưới góc độ lịch sử – cụ thể là chủ nghĩa hiện thực thừa nhận tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh. Hiểu sự phát triển nhân cách theo hoàn cảnh là một phần cơ bản của chủ nghĩa hiện thực.

Hoàn cảnh điển hình là cụm từ chỉ xuất hiện khi chủ nghĩa hiện thực ra đời. Hoàn cảnh điển hình là môi trường có thật, hoàn cảnh của nhân vật được chép lại trong tác phẩm. Những hoàn cảnh như vậy phải phản ánh bản chất hoặc một khía cạnh quan trọng nào đó của xã hội. Tất nhiên, giống như hành vi điển hình, ý nghĩa chung của tình huống điển hình phải thông qua tính đặc thù riêng của nó mà người đọc hiểu được những vấn đề xã hội rộng lớn. Khi những hoàn cảnh đó được thiết lập, thì tính cách là sản phẩm của hoàn cảnh, mà theo Engels, đó là “môi trường bao quanh nhân vật và thúc đẩy anh ta hành động.

Tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình có mối quan hệ biện chứng. Tính cách là sản phẩm của hoàn cảnh, do hoàn cảnh quy định. Vì hoàn cảnh luôn thay đổi và vận động nên nhân cách cũng không ngừng phát triển. Có thể thấy, các nhân vật của trào lưu hiện thực có tính cách rất phức tạp. Ngay trong văn học hiện thực, người ta nhắc đến cụm từ “nhân vật nổi loạn” để chỉ sự phát triển tính cách nhân vật khác hoàn toàn với dự kiến ​​ban đầu của tác giả khi cách nhìn về hiện thực của nhà văn hiện thực thay đổi. A. Tony từng nói: “Nhân vật phải sống độc lập. Chúng ta chỉ có thể đẩy nó từ từ về đích đã định trước. Nhưng đôi khi, họ phá vỡ toàn bộ kế hoạch công việc, và thế là tôi không còn là người kéo họ nữa, họ bắt đầu kéo tôi về một đích đến không ngờ tới.

Tham Khảo Thêm:  Tính nghệ thuật trong tác phẩm nghệ thuật là gì?

d. Nguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan.

Chủ nghĩa hiện thực rất coi trọng việc quan sát đối tượng được miêu tả. Nhà văn thường phải quan sát sát sao hiện thực cuộc sống. NIConrat có sự so sánh giữa nhà văn hiện thực và nhà văn lãng mạn trong việc miêu tả thiên nhiên như sau: “Trong sự chiêm nghiệm thiên nhiên, nhà văn hiện thực bác bỏ nguyên tắc đắm mình trong thiên nhiên, đắm mình trong sự bí mật và vẻ đẹp của nó . Nhà văn hiện thực muốn trở thành người quan sát thiên nhiên một cách chăm chú, muốn khám phá những bí mật và vẻ đẹp của nó, tác giả lãng mạn muốn thể hiện mình trong tác phẩm, còn tác giả hiện thực thì muốn khách quan, thái độ của nhà văn đối với hiện thực thường dè dặt.

4. Đoạn thơ.

Một. Về môn học.

Chủ nghĩa hiện thực phê phán có sự mở rộng về đề tài so với các trào lưu văn học trước đó. Chủ nghĩa cổ điển thiên về “Mô phỏng cái cổ điển”, một chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực thoát ly hiện thực, quay về quá khứ, hoặc đi vào hư ảo, hoặc thu mình vào cái tôi nhỏ bé. Chủ nghĩa lãng mạn tích cực xóa bỏ sự ngăn cách giữa cao thượng và thấp hèn, nhưng vẫn đòi hỏi nghệ thuật “Tránh xa cái bình thường” bởi theo V.Huygo – tác giả lớn nhất của dòng văn học lãng mạn tích cực “Pháp lệnh là cái chết của nghệ thuật”. Vượt qua ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống, các nhà văn hiện thực chủ trương đưa tất cả những gì đời thường, kể cả những gì thấp hèn, xấu xí vào nghệ thuật.

b. Về nhân vật.

Chủ nghĩa hiện thực phê phán tập trung vào việc xây dựng những tính cách điển hình. Khi tính cách điển hình đạt đến mức rõ ràng, riêng biệt thì dùng cụm từ “Tính cách điển hình”.

Một tính cách điển hình có các đặc điểm thẩm mỹ sau:

Trước hết, nhân cách điển hình được coi là sự kết hợp cao giữa cái chung và cái riêng, giữa cái chung và cái riêng. Bielinsky nói đó là “Một người lạ mà bạn biết”. Nét độc đáo của nhân vật điển hình là nhân vật bộc lộ cá tính độc đáo. Toàn bộ làm cho nhân vật trở thành “đại diện thực sự của một số giai cấp và thời trang nhất định, và do đó chắc chắn là đại diện cho thời đại của họ” (Ghi chú của Engels). Hình tượng văn học của chủ nghĩa cổ điển nói chung nặng mà nhẹ, của chủ nghĩa lãng mạn nói riêng nặng mà ít chú ý đến tính khái quát. Chủ nghĩa hiện thực là sự kết tinh mới khi nó mang những nét riêng cho một giai cấp, một loại người… nhưng lại có cá tính đặc sắc riêng.

Tham Khảo Thêm:  Phân biệt truyền thuyết và lịch sử

Thứ hai, nhân cách điển hình mang màu sắc thẩm mỹ khác nhau. Trong tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực phê phán, các màu sắc thẩm mỹ đan xen lẫn nhau, thay đổi lẫn nhau. Đôi khi một nhân vật có sự pha trộn giữa cao thấp, đẹp và xấu. Và vì thế, có những ký tự mà chúng ta khó có thể dùng cụm từ “Mặt trước” hay “Ngược lại”.
khuôn mặt” trong tên.

Thứ ba, hành vi điển hình là sự kết hợp biện chứng giữa tính lưu động và tính bất biến. Bản chất của văn xuôi hiện thực phê phán vừa mạnh mẽ, đồng thời phát triển trong quá trình đấu tranh với hoàn cảnh. Những đặc điểm này được coi là “trẻ em” trong hầu hết các trường hợp, như đã thảo luận ở trên.

c. Về thể loại.

Mỗi thời kỳ văn học, mỗi trào lưu văn học luôn tồn tại một hệ thống thể loại với tư cách là những mô hình nghệ thuật tương ứng. Không chỉ mở rộng đề tài, chủ nghĩa hiện thực còn mở rộng thể loại. Nếu thể loại được sử dụng nhiều nhất trong chủ nghĩa lãng mạn là thơ trữ tình và tiểu thuyết thì chủ nghĩa hiện thực chứa đựng những nguyên tắc phản ánh cuộc sống nói chung, hoàn hảo nhất trong thể loại tiểu thuyết. Vì vậy, các nhà hiện thực lớn trước hết là các nhà tiểu thuyết như: Banzac, Standan, Thacqueray, Tonstoy… Bên cạnh thể loại tiểu thuyết, còn phải kể đến thể loại truyện ngắn mà đặc điểm hiện thực được thể hiện rõ nét, chủ yếu là của các tác giả. như Mopassang, Merime, Shekhov…

Tóm lại: Ra đời từ thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện thực phê phán có sức sống thường xuyên, mãnh liệt và bằng cách này hay cách khác nó vẫn đánh dấu sự phát triển của mình trong các giai đoạn của văn học. Nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này.

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *