Các khía cạnh nghiên cứu của thi pháp học.

hướng dẫn học tập

Các khía cạnh nghiên cứu của thơ ca.

1. Nhân vật thơ.

Một. Nhân vật và miêu tả nhân vật.

Con người là đối tượng miêu tả chính trong văn học. Văn học miêu tả con người, dù là tác phẩm trữ tình, tự sự hay kịch, trực tiếp hay gián tiếp. Miêu tả đặc điểm là hình thức miêu tả con người một cách tập trung. Nhân vật được sáng tạo, hư cấu nhằm khái quát và thể hiện tư tưởng, thái độ sống. Ca ngợi nhân cách là ca ngợi cuộc đời, lên án nhân vật là phê phán cuộc đời. Thương nhân vật là thương cuộc đời. Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu về cuộc đời và con người, tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả đối với con người.

Trong thơ trữ tình có nhân vật trữ tình: con người bộc lộ cảm xúc của mình trước cuộc đời. Trong kịch, mọi người thể hiện bản thân thông qua các hành động ngôn ngữ của họ. Trong tác phẩm tự sự (truyện, kí) nhân vật là người được nhà văn nói và miêu tả bằng lời. Nhìn chung, nhân vật được miêu tả. qua văn, tức là qua lời. . Miêu tả bao gồm tả cảnh ngụ ngôn, bộc lộ cảm xúc, tường thuật, thuật lại sự việc…

Miêu tả văn học khác với miêu tả của các ngành khoa học khác, thông thường chỉ cần đạt được tính chính xác, khách quan. Ở đây miêu tả có hai mục đích: gợi sự kiện của cuộc đời và gợi cách nhìn, thể hiện điểm nhìn của tác giả. Từ đó, nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật của mình về con người.

b. Quan niệm nghệ thuật về con người.

Thực tế có hai khái niệm về con người:

  • Một là: Con người với tư cách là một phạm trù tư tưởng, chính trị, đạo đức xã hội.
  • Thứ hai: Con người với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ.

Khái niệm thứ hai chủ yếu dành cho các nghệ sĩ.

Bệnh đa xơ cứng. Kiều là một nhân vật có nội dung phong phú nhưng chàng chỉ nhớ đến những người thân yêu ở hiện tại, không thích sống trong hồi tưởng và sống với quá khứ như những nhân vật hiện đại sau này trong tiểu thuyết. Đó là vì quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du chưa đạt đến trình độ thời đại.

Triết lý nhân sinh quan hệ mật thiết với quan niệm nghệ thuật nhân sinh. Theo Trần Đình Sử, quan niệm nghệ thuật về con người là sự cắt nghĩa, cắt nghĩa, cảm nhận con người đã biến thành nguyên tắc, cách thức, phương pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị. Quan niệm nghệ thuật không ngừng được mở rộng, nhà văn càng có khả năng miêu tả chiều sâu và phong phú của nhân vật, đó còn gọi là khả năng đồng cảm của nhà văn với mọi người.

Thi pháp học nhân vật khác với công việc phân tích nhân vật. Phân tích nhân vật là dạy những nội dung thể hiện ở nhân vật như tính cách, ngoại hình, phẩm chất, vui buồn, lý tưởng, v.v. Ngược lại, khi nghiên cứu thơ nhân vật, chúng ta cần khám phá cảm xúc của con người qua việc miêu tả nhân vật. Tất nhiên, khi chúng ta nghiên cứu thơ nhân vật, việc phân tích nhân vật trở nên sâu sắc và toàn diện hơn.

… Phạm trù “quan niệm nghệ thuật về con người” là ý thức của văn học và tồn tại trong ý thức hoặc vô thức của tác giả. Nhiều nhà văn lớn đã nhận ra rằng họ đã tạo ra những quan niệm nghệ thuật mới về con người.

2. Không gian nghệ thuật.

Không gian nghệ thuật thuộc phạm trù các loại hình nghệ thuật, là phương thức tồn tại và phát triển của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật là trường nhìn được mở ra từ một điểm nhìn, một cách nhìn. Mỗi tác phẩm đều có một không gian do tác giả lựa chọn và miêu tả

Ai đã đưa chúng ta đến nơi này?
Bên kia là núi, bên này là sông

(mọi người)

Căn gác bị gió thổi bay
Cuối đời trong ngõ hẹp

(Vũ Hoàng Chương)

Từ đó ngày hè của tôi
Mặt trời chân lý tỏa sáng trong tim

(Trong Hữu)

Từ lúc yêu nhau, hoa nở muôn đời
Trong vườn thơm của tâm hồn tôi.

(Xuân Diệu)

Ở mỗi câu thơ trên đều có một không gian khác nhau, thực chất là không gian vật chất. Nhưng trong văn học nghệ thuật, không gian thuộc về thế giới tinh thần, nó trở thành ngôn ngữ, biểu tượng của nghệ thuật.

Là một hiện tượng nghệ thuật, không gian nghệ thuật mang tính ước lệ và giàu ý nghĩa cảm xúc. Trong chữ quốc ngữ, không gian được mã hóa với ý nghĩa cuộc sống, như “cao, thấp, nông, sâu, thiên vị, thẳng, thẳng, quanh co, độ lượng, hẹp hòi…”. Người ta mượn khái niệm không gian để miêu tả con người, đây là không gian chung của mọi nghệ thuật. Mỗi nhà văn, nhà thơ đều chọn hoặc tạo cho mình một không gian riêng.

3. Thời gian nghệ thuật.

Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là phạm trù của loại hình nghệ thuật. Thế giới tồn tại và được xác định bởi không gian và thời gian. Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật không tách rời nhau nhưng trong tác phẩm, nhà văn có thể cân nhắc sử dụng cả hai hoặc chỉ một trong hai.

Thời gian khách quan vật chất có các tính chất sau:

Có độ dài, hướng chuyển động, nhịp điệu

Có 3 thì: quá khứ, hiện tại, tương lai và chuyển động một chiều

Thời gian được tái hiện trong tác phẩm (gọi là thời gian nghệ thuật) luôn mang quan niệm chủ quan, cảm xúc và ý nghĩa nhân văn. Vậy: thời gian nghệ thuật là hình tượng do tác phẩm nghệ thuật tạo nên. Thời kỳ nghệ thuật có thể tự do đảo ngược, di chuyển tới lui, kéo dài và trình bày (chồng lên hai thời kỳ khác nhau).

4. Các chi tiết nghệ thuật.

Mỗi hình ảnh nghệ thuật được thêu bằng nhiều chi tiết lớn nhỏ khác nhau. Các đối tượng tượng hình như nhân vật, khung cảnh, môi trường, v.v., được tạo ra bằng hình khối, đường nét, âm thanh và các thuộc tính chọn lọc mà tác giả cho là cần thiết và quan trọng nhất, loại bỏ sự rườm rà không cần thiết.

Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó không có ý nghĩa gì, nhưng khi ghép lại, chúng sẽ chuyển tải một ý nghĩa cho tác phẩm. Chi tiết là điểm nhìn thể hiện quan niệm nghệ thuật và tâm hồn của người nghệ sĩ đối với đối tượng.

5. Cốt truyện thơ.

Cốt truyện là yếu tố cơ bản của tác phẩm tự sự. Theo định nghĩa truyền thống, cốt truyện là tất cả các hành động và sự kiện phát triển trong câu chuyện được kể. Khi nói chuyện, chúng ta có thể kể những sự kiện đó theo trình tự hợp lý để người nghe dễ hiểu. Thành phần của cốt truyện có thể là:

– Mở đầu (trình bày hoàn cảnh/mối quan hệ sắp bước vào câu chuyện)
– Phần nút thắt (tuyên bố) diễn tả cuộc gặp gỡ, mâu thuẫn nảy sinh
– Phần diễn biến kể về sự thăng trầm của hành vi và các mối quan hệ theo nguyên lý nhân quả, tiếp
– Cao trào, đỉnh điểm của xung đột, kết thúc.

Đôi khi tác giả thêm vào một “tiếng lớn” để chỉ viễn cảnh tương lai (phần này không tiếp nối cốt truyện mà xa dần). , sự kiện. Nó có thể hoạt động khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của tác giả về thế giới và con người.

Mỗi câu chuyện có ít nhất một sự kiện. Nhưng không phải mọi sự kiện đều có một câu chuyện. Nó chỉ có thể là một câu chuyện nếu nó có ý nghĩa. Người viết chọn một sự kiện có vẻ xa lạ, lạ lùng (lệch chuẩn, siêu việt) dự báo một sự thay đổi, một điều đáng lo ngại.

Ví dụ: Nhà văn trước khi viết truyện ngắn”Luxe”, anh quan sát thấy hàng trăm người giàu có tụ tập để nghe một người hát rong trong một giờ trước khách sạn của anh ở Thụy Sĩ. Hát xong, người nghệ sĩ giơ nón nhận tiền trước mặt mọi người, ai cũng quay lưng đi, người nghệ sĩ tội nghiệp không nhận được một xu nào. Nếu họ vội nhét tiền vào mũ anh ta, đó là một hành động bình thường, không phải là một sự kiện. Nhà văn Liev Tolstoy nhìn thấy cảnh này, cho rằng đó là một sự suy đồi về đạo đức, đáng được gọi là một hiện tượng xã hội (các nhà viết sử, các nhà chính trị không vô cớ để ý đến những chuyện như vậy).

Nhiệm vụ của thơ lục bát không phải là trình bày các thành phần của cốt truyện mà là phải có cảm nhận về phong cách xây dựng cốt truyện, hay quan niệm tác giả chi phối cốt truyện đó.

6. Cấu tứ thơ.

Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật của tác phẩm. Cái khó nhất trong sáng tác là kết cấu, tác phẩm là một công trình kiến ​​trúc nên cái khó nhất phải là kết cấu (ta thường nói: công trình, kết cấu…). Ngay cả từ “cấu trúc” vốn có trong kiến ​​​​trúc và hội họa. Nhà văn xây dựng tác phẩm văn học với mục đích thể hiện cuộc sống và tình cảm của mình trước tác phẩm. Nhà văn phải xác lập nhân vật, cá tính, xác định không gian và thời gian, lựa chọn, sắp xếp tình tiết…

Kết cấu tác phẩm thực chất là tác giả mở lối cho người đọc đi vào dòng sự kiện và cuộc đời. Sắp xếp điểm nhìn để công chúng dễ dàng nhìn thấy bề rộng và bề sâu của câu chuyện để thấy được ý nghĩa cốt yếu của nhân sinh.

Nghiên cứu văn học theo hướng thi ca Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhất là trong việc khám phá những phương diện nghệ thuật trong tác phẩm của các tác giả tiêu biểu, trong đó có Nam Cao. Mỗi truyện ngắn Nam Cao là một nghệ thuật chính luận, là một bộ phận của hệ thống tổng thể. Đọc truyện ngắn của Nam Cao cùng thời, ta có cảm giác na ná nhau. Nhưng đọc riêng từng truyện lại có cái nhìn không lẫn vào đâu được. Nam Cao xây dựng truyện ngắn của mình theo cách vừa có cái riêng, vừa có cái chung.

Tham Khảo Thêm:  Chủ nghĩa cổ điển. - Theki.vn

Related Posts

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học. I. Tiếp nhận văn học. 1. Tiếp nhận trong đời sống văn học. – Tiếp nhận văn…

Truyền thuyết ra đời khi nào?

Sự ra đời của huyền thoại truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại hào hùng của Việt Nam, thời đại mà các…

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách.

100 danh ngôn hay nhất về đọc sách. 1. Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và…

Nhận định về phong cách nhà văn và chức năng của tác phẩm văn học.

Komento sa estilo sa tagsulat. una. “Ang matag buhat kinahanglan nga usa ka imbensyon sa porma ug usa ka pagdiskobre sa sulud” (Leonite Leonop) 2. “Unsa ang…

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế…

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn

110 nhận định hay về thơ ca cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn 1. “Anđecxen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *